Dịch vụ logistics của việt nam tăng trưởng 2020

logistics của việt nam là một trong những keyword được search nhiều nhất trên google về chủ đề logistics của việt nam Trong bài viết này xecogioichuyendung.com sẽ viết bài Dịch vụ logistics của việt nam tăng trưởng 2020.

Dịch vụ logistics của việt nam tăng trưởng 2020

Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của cả nước cũng giống như từng địa phương, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Nghiên cứu này trao đổi về triển vọng tăng trưởng của ngành này cũng giống như đưa ra một vài giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển dịch vụ logistics tại Việt Nam.

Thực trạng ngành logistics nước ta

Logistics là một ngành dịch vụ trọng yếu trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò giúp đỡ và hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Logistics là công việc theo chuỗi dịch vụ từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Lĩnh vực này liên quan trực tiếp đến hoạt động vận chuyểngiao nhận, kho bãi, các thủ tục dịch vụ hành chính, tư vấn (hải quan, thuế, bảo hiểm…), xuất nhập khẩu – thương mại, kênh phân phối, bán lẻ…

phát triển dịch vụ logistics thành một ngành dịch vụ sẽ đem lại thành quả giá tăng cao, gắn dịch vụ logistics với phát triển sản xuất sản phẩm, xuất nhập khẩu và thương mại nội địatăng trưởng hạ tầng giao thông vận chuyển và công nghệ thông tin… phát triển thị trường dịch vụ logistics lành mạnh sẽ tạo cơ hội bình đẳng cho các công ty (DN) thuộc mọi thành phần kinh tế, khuyến khích thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước thích hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Theo Hiệp hội DN dịch vụ Logistics nước ta (VLA), tốc độ tăng trưởng của ngành logistics tại nước ta ở nước ta có khoảng những năm gần đây đạt khoảng 14%-16%, với quy mô khoảng 40-42 tỷ USD/năm. Tham gia thị trường logistics gồm khoảng 3.000 DN trong nước và khoảng 25 tập đoàn giao nhận hàng đầu toàn cầu kinh doanh dưới nhiều hình thức. hiện nay, 30 DN cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang công việc tại nước ta với các tên tuổi lớn như: DHL, FedEx, Maersk Logistics, APL Logistics, CJ Logistics, KMTC Logistics…

Theo xếp hạng của ngân hàng thế giớiViệt Nam hiện đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Với tốc độ phát triển hàng năm đạt từ 14-16%, đây là một trong những ngành dịch vụ phát triển nhanh và ổn định nhất của Việt Nam trong thời gian qua.

dự báo, đến hết năm 2020, kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta ước đạt mức 300 tỷ USD, hàng container qua bộ máy cảng biển Việt Nam đạt 67,7 triệu TEU, do vậy, tiềm lực dịch vụ logistics Viet Nam là rất lớn. Trong tương lai không xa, dịch vụ phân phối logistics sẽ biến mình thành ngành kinh tế trọng yếu, có thể đóng góp tới 15% GDP của cả nước.

Đáng chú ý, thời gian gần đây đã có sự bùng nổ về thương mại điện tử và e-Logistics. Theo Cục thương mại và điện tử và kinh tế số của Bộ Công Thương, thương mại điện tử tăng trưởng 35%/năm; doanh số bán lẻ thương mại điện tử của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 ước tính tăng 20%/năm và tổng doanh số bán lẻ thương mại và điện tử nước ta dự kiến đạt 10 tỷ USD vào năm 2020. Những chỉnh sửa trong thương mại và điện tử trên toàn cầu và tại Việt Nam đã đẩy mạnh ngành logistics Viet Nam cải thiện phương thức phân phối dịch vụ ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.

cơ hội đẩy mạnh phát triển ngành logistics

vào thời điểm hiện tạiViệt Nam được đánh giá có nhiều cơ hội để thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ Logistics. nhất địnhhệ thống hạ tầng giao thông đường bộ, cảng hàng không, cảng biển, kho bãi, hạ tầng thương mại, trung tâm logistics luôn luôn được mở rộng với quy mô lớn, rộng khắp. Cùng với đó, các dịch vụ đi kèm đã, đang đáp ứng kịp thời những yêu cầu hết sức đa dạng của thị trường. Các thủ tục, thời gian thông quan đối với hàng xuất khẩu cũng đã sửa đổi và nâng cấp đáng kể.

Năm 2017, thời gian thông quan hàng xuất khẩu là 105 giờ, hàng nhập khẩu là 132 giờ. Viet Nam cũng đang đứng thứ 39/160 nước về thông số công việc logistics và đứng thứ 3 trong ASEAN chỉ sau Singapore và Thái Lan… những vấn đề này đã tạo điều kiện cho DN phát triển, giảm khoản chi, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu; tạo thành nên các chuỗi cung ứng logistics toàn diện, đa dạng và ngày càng sâu hơn hơn, góp phần quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế.

Công tác hoàn thành quy định pháp luật thời gian qua đã được Chính phủ quan tâm. Thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Viet Namnhất là việc thực hiện các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đòi hỏi cần có những quy định thích hợpgiúp đỡ thuận lợi, thông thoáng cho ngành Dịch vụ logistics phát triểnthúc đẩy đầu tư trong nước và cộng tác quốc tế.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 phê duyệt chiến lược hành động nâng cao khả năng cạnh tranh và tăng trưởng ngành Dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025. trong số đóxác định 06 mục tiêu, 60 vai trò nhất định với nhiều phương án toàn diện, nhằm đưa ngành này vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế của quốc gia.

Ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2017/NĐ-CP quy định về bán hàng dịch vụ logistics (có hiệu lực từ ngày 20/02/2018), thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân bán hàng dịch vụ logistics.

Việc ban hành Nghị định này đã bao quát toàn diện các dịch vụ logistics, nội luật hóa các cam kết quốc tế về logistics như xác định trong chiến lược hành động nâng cao khả năng cạnh tranh và tăng trưởng dịch vụ logistics đến năm 2025. đây chính là bước tiến mới trong việc cải cách thể chế liên quan đến ngành Dịch vụ logistics cũng giống như có các quy định nhất định về đầu tư phát triển dịch vụ logistics của nước ta.

Ngày 06/07/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành hệ thống ngành Kinh tế Việt Nam và đây là lần đầu tiên Việt Nam có mã ngành logistics riêng (Mã 52292: Logistics). Ngày 18/07/2018, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg về đẩy mạnh khai triển các phương án nhằm giảm khoản chi logistics, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông… Chính phủ đã thể hiện rõ đảm bảo hỗ trợ, kiến tạo môi trường thuận lợi, để nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng dịch vụ logistics nước ta.

một vài thách thức, rào cản

Ngành logistics nói chung, các DN logistics nói riêng của nước ta hiện còn phải đối diện với không ít thách thức, rào cản, cụ thể:

Một là, thể chế, chính sách đối với lĩnh vực logistics chưa đồng bộ, còn hiện hữu một vài bất cập. có sự liên quan đến khung khổ pháp lý đối với ngành logistics, vào thời điểm hiện tại có khá nhiều văn bản, song các chính sách nhất định, chi tiết hóa các nhất định các chủ trương đấy vẫn chưa được thực hiện hoặc còn chồng chéo.

Hai là, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải còn yếu kém, không đồng bộ, chưa làm ra hành lang vận chuyển đa phương thức trong khi nhu cầu trung chuyển chất lượng cao cho sản phẩm giữa các phương thức đang ngày càng lớn. nước ta còn thiếu các khu kho vận tập trung có vị trí chiến lược, đồng bộ với hệ thống cảng, sân bay, đường quốc lộ, cơ sở sản xuất; Mất cân đối cung cầu tại các cảng biển miền Nam.

Thực tế cũng cho thấy, việc kết nối các phương thức vận chuyển chưa hiệu quả; chưa phát huy tốt các nguồn lực về hạ tầng, con người, thị trường trong nước và khu vực; các trung tâm logistics đóng nhiệm vụ kết nối nước ta với quốc tế chưa được đầu tư, xây dựng… dẫn đến chi phí logistics còn cao, chiếm 25% GDP (so với các nước tăng trưởng chỉ từ 9 đến 15%) trong số đókhoản chi vận tải chiếm 30 đến 40% giá thành hàng hóa (tỷ lệ này là 15% ở các quốc gia khác). Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh dịch vụ, sản phẩm của các DN nước taảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta.

Ba là, hoạt động của chính các DN logistics còn nhiều hạn chế cả về quy mô hoạt động, vốn, nguồn nhân lực… Các DN cung cấp dịch vụ logistics ở nước ta hầu hết là những DN nhỏ và vừa, công việc bán hàng dịch vụ logistics còn manh mún, thiếu kinh nghiệm và chuyên nghiệp, Mang đến các dịch vụ cơ bản, hoặc phân phối từng dịch vụ đơn lẻ, cạnh tranh về giá là Chủ yếu, ít giá trị gia tăng, thường chỉ đóng nhiệm vụ là nhà thầu phụ hay đại lý cho các doanh nghiệp nước ngoài gồm: Dịch vụ logistics trọng điểm mà các DN kinh doanh logistics Việt Nam cung ứng cho người mua hàng là một dịch vụ kho bãi, vận chuyển sản phẩmchuyển phát hàng hóa, bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho… Còn các dịch vụ khác trong chuỗi dịch vụ logistics mặc dù có một vài DN cung ứng nhưng số lượng không nhiều và chưa được quan tâm phát triển. Bên cạnh đó, còn thiếu mối quan hệ giữa DN xuất khẩu và DN logistics do thói quen nhập khẩu CIF và xuất khẩu theo FOB. khả năng cạnh tranh của các DN trong nước cũng còn thấp so với DN ngoại.

Bốn là, nguồn nhân công phục vụ cho dịch vụ logistics chưa qua đào tạo rõ ràng còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầuĐáng chú ý thiếu các chuyên viên logistics giỏi có khả năng ứng dụng và triển khai tại các DN nghiệp. Trong số các DN trong nước vào thời điểm hiện tại, có tới 93 – 95% người lao động không nên đào tạo rõ ràngtrọng điểm làm dịch vụ ở các chuỗi cung ứng nhỏ như: chuyển phát, kho bãi, giải quyết vận đơn…

phương án tăng trưởng ngành logistics

Theo kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Viet Nam đến năm 2025, Viet Nam phấn đấu tỷ trọng giúp sức của ngành Dịch vụ logistics vào GDP đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, thứ hạng theo thông số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên. Với mục đích đưa Viet Nam biến mình thành một đầu mối logistics của khu vực, trong thời gian tới cần tập trung khai triển một vài nhiệm vụphương án sau:

Một là, tiếp tục hoàn thành chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics. Theo đấy, sửa đổi một vài quy định, bổ sung về dịch vụ logistics tại Luật Thương mại, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho công việc logistics. Sửa đổi, ban hành mới các chính sách, pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics, vận chuyển đa phương thức, vận chuyển xuyên biên giới. Bao quát toàn diện các dịch vụ logistics, nội luật hóa các đảm bảo quốc tế về logistics…

Hai là, ban hành các chính sách giúp đỡ và hỗ trợ đẩy mạnh ngành Dịch vụ logistics tăng trưởng. Theo đấytạo ra chính sách hỗ trợ tăng trưởng dịch vụ logistics tại địa phương hiệu quảphù hợp với dấu hiệu kinh tế – xã hội của từng địa phương. hỗ trợ DN dịch vụ logistics, nhất là các DN nhỏ và vừa, thuận lợi trong việc tiếp cận các nguồn vốn trong và ngoài nước, phát triển thị trường, đào tạotiếp cận nội dung.

Ưu tiên sắp đặt ngân sách hỗ trợ nghiên cứu, phần mềm, chuyển giao công nghệ và tiến bộ kỹ thuật cho tăng trưởng dịch vụ logistics, xã hội hóa nguồn lực cho tăng trưởng dịch vụ logistics, góp phần nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của các DN cung cấp dịch vụ logistics. giúp đỡ và hỗ trợ tạo ra những tập đoàn mạnh về logistics, thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài và xuất khẩu dịch vụ logistics, tạo định hướng và động lực tăng trưởng thị trường. rà soát các đảm bảo quốc tế về dịch vụ logistics tại WTO, ASEAN và các hiệp định thương mại tự do (FTA), từ đó hỗ trợ DN nâng cao khả năng đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng, giải quyết mâu thuẫn liên quan đến hoạt động logistics…

Ba là, hoàn thành kết cấu hạ tầng logistics, bằng cách bắt đầu rà soát các quy hoạch, kế hoạchcam kết tính đồng bộ của hạ tầng giao thông và dịch vụ vận tải với mục tiêu phát triển ngành Dịch vụ logistics. rà soátđiều tiết quy hoạch, cơ cấu sản xuất địa phương gắn với tăng trưởng hạ tầng và dịch vụ logistics, cam kết các quy hoạch, kế hoạch về giao thông, vận tải phù hợp với các kế hoạch, quy hoạch về sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, kế hoạch tăng trưởng kinh tế – xã hội của các địa phương, gắn kết quy hoạch về trung tâm logistics, cảng cạn, kho ngoại quan trong một tổng thể thống nhất. Tăng lưu lượng sản phẩm vận tải bằng đường biển, đường thủy trong nước, đường sắt và đường hàng không. phát triển bộ máy vận tải nhằm đáp ứng xu hướng phát triển của thương mại điện tửtrong đó chú trọng đến giao hàng chặng cuối.

Ba là, nâng cao khả năng DN và chất lượng dịch vụ. nên có cách thức hỗ trợ giúp các DN Viet Nam hiểu rõ và nhận thức đúng về công thức Mang đến các dịch vụ logistics, nhất là trong quá trình vận tải; đào tạo có hệ thống nguồn nhân lực có kinh nghiệm và được trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế. Khuyến khích DN trong một số ngành (dệt may, da giày, đồ gỗ, nông sản, cơ khí – chế tạo…) áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến trong quá trình tạo ra sản phẩmbán hàngtrong đó chú trọng khai triển các công việc logistics trên nền tảng ứng dụng công nghệ nội dung và các công nghệ mới trong logistics.

Về phía DN, ngoài nguồn nhân công cần được nâng cao trình độ ngoại ngữ công nghệ để đáp ứng với việc hội nhập các DN cần đầu tư cơ sở vật chất, nâng cấp và mở rộng bộ máy kho bãi, các trang thiết bị bốc xếp, vận tải chuyên sử dụng và các dịch vụ giúp đỡ và hỗ trợ khác; Liên doanh, liên kết với các DN trong và ngoài nước để kết nối, mở rộng mạng lưới dịch vụ trong cả nước và trên thế giới để tạo đầu ra thị trường ngoài nước và nâng cao khả năng chuyên môn của cán bộ để từ đấy nâng cao tính cạnh tranh trong công việc bán hàng.

Thông qua các hoạt động này nhằm nâng cao khả năng DN, khuyến khích, hướng dẫn DN trong một vài ngành áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến trong quá trình tạo ra sản phẩmbán hàngtrong số đó chú trọng triển khai các công việc logistics trên nền tảng công nghệ nội dung và các công nghệ mới trong logistics.

Bốn là, tăng trưởng thị trường dịch vụ logistics. đẩy mạnh xúc tiến thương mại cho dịch vụ logistics thông qua việc đăng cai, tổ chức các hội thảo, hội chợ, triển lãm quốc tế về logistics. Tổ chức các đoàn nghiên cứu ra nước ngoài và mời các đoàn DN nước ngoài vào nước ta trao đổi thời cơ đầu tư, hợp tác về phát triển dịch vụ logistics. đẩy mạnh tuyên truyền cho các DN sản xuất, xuất nhập khẩu và thương mại trong nước về việc dùng dịch vụ logistics thuê ngoài theo hướng chuyên môn hóa, phân công lao động hợp lý trong chuỗi cung ứng.

Đặc biệt, tập trung sửa đổi và nâng cấp cơ sở hạ tầng logistics gắn với thương mại và điện tử, kết hợp logistics với thương mại điện tử theo xu hướng tăng trưởng trên thế giới và khu vực. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cho cả DN lẫn đơn vị quản lý để phục vụ sự tăng trưởng khẩn trương của dịch vụ logistics.

Năm là, đẩy mạnh cộng tác quốc tế trong lĩnh vực logistics. bắt đầu mở rộng kết nối hạ tầng logistics với các nước trong khu vực ASEAN, Đông Bắc Á và các khu vực khác trên toàn cầu nhằm phát huy tác dụng của vận chuyển đa phương thức, vận tải xuyên biên giới và quá cảnh. tạo ra công trình giao thông, kho bãi, trung tâm logistics trên các tuyến đường, hành lang kết nối các cảng của nước ta với Lào, Campuchia, Thái Lan và Nam Trung Quốc.

đẩy mạnh tăng trưởng loại hình vận chuyển đa phương thức, vận tải xuyên biên giới, đặc biệt là đối với sản phẩm quá cảnh. hình thành các trung tâm logistics ở nước ngoài làm đầu cầu, tập kết và cung cấp sản phẩm Việt Nam đến các thị trường quốc tế. Tăng cường liên kết với các hiệp hội và DN dịch vụ logistics khu vực ASEAN và trên thế giới. Vận động thu hút đầu tư tạo ra trung tâm logistics để thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa Viet Nam với thị trường toàn cầu, nhằm tạo thành các trung tâm logistics ở nước ngoài làm đầu cầu, tập kết và phân phối hàng hóa Việt Nam đến các thị trường quốc tế.

nguồn: tapchitaichinh.vn

Xem thêm:

Con gái có nên học logistics gành hot 2020

Tổng hợp Tiếng Anh ngành Logistics 2020

 

0/5 (0 Reviews)

1 thought on “Dịch vụ logistics của việt nam tăng trưởng 2020”

  1. Pingback: Con gái có nên học logistics gành hot 2020 - Thiết bị cơ giới chuyên dùng

Comments are closed.